Điều này nói ra đau lòng lắm
Chính bản thân quá trình xác nhận danh hiệu cũng đã đi ngược lại quá trình đa dạng văn hóa. * Di sản phi vật thể sau khi được xếp hạng luôn đối mặt với nguy cơ đến từ chính cơ quan quản lý văn hóa đó là bị Nhà nước hóa và sàn diễn hóa. Thậm chí nội hàm giá trị còn bị bóp méo dần theo cách làm sai của địa phương.
Cũng là thời kinh tế thị trường. Nhận thức là điều cần phải đổi thay đầu tiên. Nghề chạm khắc bạc của người Mông. Cả tĩnh và động đang bị chê trách vì làm chưa tới? - Với bảo tàng. TS Lương Hồng Quang (phó viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam). Di sản bị sàn diễn hóa. Không hoàn toàn theo công ước quốc tế mà UNESCO đã đề ra. Từ cấp tỉnh. Quá trình này sẽ làm biến dạng di sản.
Chỉ ra việc Nhà nước can thiệp rất nặng vào di sản của cộng đồng. Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật ở Việt Nam hiện giờ hoàn toàn không có.
Nguyên tắc thứ hai là tôn trọng quyền văn hóa của chủ thể. Thưa ông? - Tôi cho rằng đây là một thiên hướng chẳng thể cưỡng lại được. Bảo tàng động là gắn di sản đó với không gian và môi trường sống của nó. Với các nhà nước có nguồn lực hạn chế thì phải ưu tiên cho di sản đã xếp hạng chính thức theo kiểu “con nhà tôi thì tôi phải lo hơn con nhà bác”.
Sinh sản và vận hành việc này. Nhưng nhận thức này đang bị sai lệch. Góp phần khiến di sản ngày một trở nên cách biệt cộng đồng. Coi đó là một kênh cực kỳ hữu hiệu trong việc truyền tải thông điệp của di sản tới công chúng. Nhà nước. Văn hóa thấp. Trong các hoạt động phải tránh sự can thiệp của quốc gia vì dù sao Nhà nước vẫn cứ là “người ngoài”. Nên nhớ những di sản không được công nhận cũng là di sản cần phải bảo tàng.
Từ đó đặt ra câu hỏi: còn các di sản khác thì sao? Đây là bài toán phải tính kỹ. Sưu tầm. Trong đó quan trọng nhất là phải nhấn mạnh nguyên tắc đa dạng văn hóa.
Họ có những cách tiếp cận khác nhau và chưa tìm được tiếng nói chung trong việc chuẩn hóa các phương tiện này.
HÀ HƯƠNG thực hành (*): Lễ hội Roóng poọc (xuống đồng) của người Giáy. Biến mất khỏi đời sống xã hội thời nay. Ngay chương trình mục tiêu quốc gia cũng rất chú trọng đến các di sản đã được xác nhận. Vấn đề này đang trở thành áp lực với hàng loạt nước châu Á. Việc bảo tàng các di sản văn hóa phải dựa trên hai nguyên tắc. Di sản chưa được xác nhận là không có giá trị. Họ sẽ phải tiến hành nghiên cứu.
Các nước Âu - Mỹ đã trải qua thời kỳ này từ rất lâu rồi. Đã biến đổi rất nhiều. Nam Mỹ chứ không chỉ Việt Nam. Luận bàn với TTCT. Vì thế phải nâng cao năng lực giám sát và sự tham dự của cộng đồng vào quá trình thực hiện di sản. Ở đây xin được nhấn mạnh rằng chúng ta chưa có giới luật sai/đúng về việc này để chính sách được thực thi một cách triệt để nhất.
Như mối lo của PGS. Để suy tôn. Một số quan điểm đặt ra là không nên xếp hạng di sản đối với các di sản phi vật thể bởi sẽ tạo nên sự chênh lệch giữa các di sản được xếp hạng và không được xếp hạng.
Chụp ảnh rồi cất vào kho hoặc trình chiếu. Vận dụng tư duy quản lý hiện đại với những phương tiện quản lý mới.
Sàn diễn hóa. Bên cạnh vấn đề tiền thì vấn đề khôn xiết quan yếu là bản thân cộng đồng phải được chuyển giao công nghệ tổ chức. Trình bày. Vấn đề là giảm tác hại của nó bằng cách nào. Quan họ Bắc Ninh với Bắc Giang. Sở hữu
Người ta vẫn biết đến những di sản của họ dù nó nằm ở những khu vực hẻo lánh.
Đây là một bài toán kinh tế chứ không thuần tuý là một dự án phát triển để bảo tàng di sản. Thường nhật. Nhìn ở cả hai mặt hăng hái và bị động. Bấy lâu nay di sản được xử sự theo một đường hướng bảo tồn/phát huy.
Lễ hội cúng biển Mỹ Long. Và công cuộc bảo tồn vớ sẽ trở nên bất khả thi vì đòi hỏi một cơ chế quản lý hoàn hảo kiểu “ba đầu sáu tay”.
Lễ nghi cấp sắc của người Dao. Lễ hội Nhà nước hóa các hệ giá trị. Cả hai cách đều có những phức tạp riêng và hẳn nhiên cách nào cũng tốn tiền như nhau. Có những di sản sau khi được xác nhận vẫn bị bỏ mặc lây lất. Những màn hát ca trù hay hát quan họ không còn dành cho cộng đồng nhỏ nữa.
Sẽ không có chuyện văn hóa cao. Lễ Pút tồng của người Dao Đỏ. Cấp tỉnh. Hội làng ngày xưa đã biến thành lễ hội vùng. * Về lý thuyết là thế nhưng thực tiễn bảo tàng ở Việt Nam. Di sản cũng đang được sử dụng như một thế mạnh và tiềm năng để phát triển du lịch.
Chúng ta chưa làm được điều này. Trong đó. Muốn kiếm tiền thì phải biết làm và làm tốt. Xu hướng này dẫn đến nhiều hệ quả: một mặt là sự khao khát danh hiệu.
Để phát triển du lịch”. TS Lương Hồng Quang cho biết: “Di sản hóa” là một thiên hướng thịnh hành ở Việt Nam gần đây. Anh phải nhận thức được những hệ quả không mong muốn là sự đua tranh của các cộng đồng. Bởi như thế sẽ làm giảm giá trị của việc xác nhận.
* Nhiều năm nay. Nghề chàng slaw (làm tranh cắt giấy) của người Nùng Dín. Người ta chỉ nên trao danh hiệu cho những di sản có vị trí độc đáo.
Ký ức của cộng đồng chỉ là những mảnh vụn thì sự tham dự của nhà khoa học là rất quan yếu. Lý thuyết này được một học giả người Anh đặt ra trong những năm 1970. Ông đánh giá như thế nào? - Việc tích cực như người ta vẫn hô hào nào “để truyền bá.
Chính Unesco từ những năm 1980 đã bắt đầu có sự cảnh tỉnh về biến dạng di sản. Bảo vệ tài sản văn hóa nghệ thuật của dĩ vãng.
Tuy nhiên. Thi nhau “hoành tráng hóa”. Tự do sáng tạo. Là điều hoàn toàn bất cập với trình độ quản lý văn hóa hiện nay ở các cấp thiết chế. Nó sẽ nảy các mối quan hệ giữa chủ thể văn hóa với quốc gia và chủ thể văn hóa với doanh nghiệp.
Có danh hiệu về mặt văn hóa cũng là một cách để định vị thương hiệu. Vày “di sản hóa” giờ vẫn phát huy tác dụng của nó. Họ cũng đã xây dựng được một bộ dụng cụ hướng dẫn rõ ràng. Vấn đề bây chừ là phải cảnh tỉnh. Nhưng chí ít cũng phải có điểm dừng chứ? - Chúng ta đang quá say sưa với danh hiệu.
Bị biến dạng và dần trở thành “người lạ” với chính cộng đồng đã sáng tạo và giữ giàng nó.
Bao gồm làm phim tài liệu. Bảo tàng động có khả năng kiếm tiền cho chủ thể tốt hơn. Bảo tàng tĩnh tức là tư liệu hóa các loại hình văn hóa phi vật thể.
Cấp nhà nước đến cấp. Như Nhật Bản chẳng hạn. Nghệ thuật xòe Thái. * Ông cho rằng “di sản hóa” là quá trình không thể cưỡng lại. Bởi giờ ở Việt Nam đang có xu hướng cứ có danh hiệu. Bên cạnh việc làm di sản tiếp tục duy trì nguy cơ mai một.
Mỗi nơi một phách. Quan yếu nhất là phải có tự do sáng tạo
Những nước làm bảo tồn tốt còn có các lớp tập huấn cho những nhà báo chuyên viết về di sản. Đối với những di sản không có tư liệu ghi chép.
Còn chúng ta chỉ mới ở giai đoạn bắt đầu. Nhất là khi “di sản hóa” là một quá trình chẳng thể cưỡng lại. Đặc biệt di sản phi vật thể. Rất nhiều cộng đồng đánh đổi một tấm bằng xác nhận di sản tinh thần của mình để biến nó thành một loại hình biểu diễn. * Tức là sự thèm muốn danh hiệu không chỉ là vấn đề của quốc gia mà còn lên đường từ bản thân cộng đồng? - Nhà nước.
Đây là thời truyền thông rầm rộ xuất hiện. Nhà nước và cộng đồng sẽ phải làm gì để di sản không bị biến dạng? - Theo tôi.
PGS. Không chỉ tôi mà rất nhiều nhà chuyên môn khác cũng nhìn thấy rõ khi đi điền dã. Nhà nước vẫn là “người ngoài” * Nếu chẳng thể cưỡng lại “di sản hóa”. Có hai hình thức bảo tàng là bảo tàng tĩnh và bảo tồn động. Thực tại giờ cho thấy bối cảnh của di sản.
Để lan tỏa. Mục đích trao danh hiệu khi đó nhằm đánh thức. Vấn đề là họ tư liệu hóa di sản của mình rất tốt. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao? - Đây chính là điều đòi hỏi sự mẫn cảm của nhà quản lý. Chạy theo và kiếm tìm sự tôn danh hiệu; mặt khác. Thậm chí mơ hồ. Khuyến khích cộng đồng khu vực có tinh thần giữ gìn. Trước đây. Hát Páo dung của người Dao. Thì tôi không bàn. Chính thực tại đó cổ vũ cho phong trào “di sản hóa”.
Cá nhân chủ nghĩa đều ưa danh hiệu * Vậy Việt Nam sẽ phải đối diện với thiên hướng “di sản hóa” như thế nào. * Chúng ta ít thấy những người trẻ trong công cuộc bảo tồn di sản. Cộng đồng. Tham mưu cho cộng đồng trên cơ sở tôn trọng tính chủ thể của di sản văn hóa đó. Đặc sắc nhất trong cộng đồng mà hiện có nguy cơ mai một.
Cụ thể để có thể thực hành theo. Nguyên tắc thứ nhất là tăng cường sự dự của cộng đồng vào các di sản. Không thể không nói những cách làm đó đã tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của quốc gia mà chẳng giúp ích được bao nhiêu cho sự sống còn thật sự của di sản.
Giữa bảo tàng hay phá hủy chúng là một lằn ranh khôn xiết mong manh. Cấp nhà nước hay cấp Unesco thì sẽ được đầu tư.
Kế thừa/phát triển khá mông lung. Cả góc cạnh hăng hái lẫn tiêu cực của trào lưu “di sản hóa” này. Hẳn nhiên. Mọi sự tuyên truyền bấy bấy lâu chủ yếu nhờ vai trò của báo chí mà thôi. Tức thị quyền tự do diễn đạt.
Tất cả đang say sưa và tôi không biết cơn say sưa này tới bao giờ mới chấm dứt. Unesco. Ngoại giả sẽ thấy cũng chẳng thể phong danh hiệu cho tất thảy di sản được.
Hằng năm có thêm hàng loạt di sản được xác nhận danh hiệu. Trên cơ sở các nguyên tắc bảo tồn. Không chỉ phía Nhà nước mặc cả người dân cũng đang đẩy mạnh quá trình “di sản hóa” này một cách rần rộ. Kéo theo những lễ đón nhận rầm rộ. Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cũng quan ngại về một đường hướng bảo tàng khá mơ hồ và thiếu chuẩn bây giờ.
Đúng là có hiện tượng bì này nọ giữa các di sản được và chưa/không được xác nhận danh hiệu. Cộng đồng và từng cá nhân chủ nghĩa đều muốn danh hiệu. Bên cạnh đó. Thí dụ: quan họ nhà tôi với nhà anh.
Theo ông. Chứng tỏ ngay từ trong chính sách cũng có những mâu thuẫn. Unesco có một bộ chỉ dẫn nhưng chỉ bao gồm những nguyên tắc chung chứ không phải là một bộ phương tiện đầy đủ.
Nếu anh là nhà quản lý.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét