Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Được chia sẻ Kinh tế Việt Nam vì đâu nên nỗi?.

Vì vậy, không có gì sửng sốt khi mà rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khốn khó trong hoạt động sinh sản kinh dinh buộc phải đóng cửa hay phá sản trong thời kì gần đây, cho dù họ không hề có những hoạt động đầu cơ tài sản

Kinh tế Việt Nam vì đâu nên nỗi?

Nhiều doanh nghiệp đang rơi vào tình thế tới lui lưỡng nan. Chỉ trong mấy tháng, chỉ số chứng khoán VN-Index đã tăng gần bốn lần và trong vòng hơn một năm, giá bất động sản cũng có mức tăng tương tự. Kinh tế sẽ tăng trưởng cao hơn và giá trị chứng khoán và bất động sản tăng chóng mặt nêu trên sẽ trở nên hợp lý sau một thời kì.

Trong cảnh ngộ hiện giờ, nếu đấu bơm tiền thì nhiều người vẫn có cơ hội níu kéo các hoạt động đầu cơ đang thua lỗ và “mặc kệ” các hoạt động kinh dinh đốn có hiệu quả của mình.

Tới lui lưỡng nan  Trước khi nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã chí thú làm ăn, tận dụng được lợi thế của Việt Nam để tụ tập vào các hoạt động sản xuất kinh dinh tạo ra của cải cho tầng lớp.

Việc “cố gắng” ổn định tỷ giá trong bối cảnh lạm phát cao như cú đánh kép vào khu vực sản xuất trong nước. Những thời cơ đã không được tận dụng, trong khi rắc rối ngày một nhiều hơn và để lại hậu quả ngày bữa nay. Lấy lý do đối phó với khủng hoảng tài chính thế giới và suy giảm sinh sản kinh dinh trong nước, chính sách tiền tệ đã tiếp tục được nới lỏng. Giá cổ phiếu và bất động sản tăng là thật, và lãi là thật.

Đây chính là nền móng tạo ra mức tăng trưởng kinh tế 7-8% cho Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp, nhất là khu vực dân doanh sau sự cởi mở của Luật Doanh nghiệp năm 2000, hội tụ vào hoạt động sinh sản kinh dinh tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ thực cho tầng lớp đã ăn nên làm ra với suất sinh lợi khá cao (vài chục phần trăm).

Hơn thế, việc cho phép sở hữu các ngân hàng quá dễ dàng và thất thoát trong đầu tư và tiêu công do tham nhũng đã làm tăng tính “liều mạng” đầu cơ vào các tài sản. Từ những mức lương không đến nỗi nào trong lĩnh vực sinh sản kinh dinh trước đây, nhiều người đã có được những mức lương hay thu nhập chỉ nằm mộng mới thấy.

Tuy nhiên, người viết cho rằng những rối rắm hiện nay của Việt Nam đốn là do những vấn đề nội tại chứ không phải tác động từ bên ngoài. Những lợi thế đã được phát huy, xuất khẩu gia tăng mạnh, nhất là những mặt hàng hệ trọng đến nông nghiệp và thủy sản hoặc thâm dụng cần lao như da giày và dệt may.

Việc thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát chỉ được thực hành trong một thời kì ngắn. Trong gian đoạn 2006-2012, mức giá chung của cả nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp đôi, tỷ giá tiền đồng so với USD chỉ tăng 30% đã làm cho các sản phẩm nhập vào Việt Nam (máy tính, điện thoại của Apple chẳng hạn) rẻ hơn, trong khi gạo hay các sản phẩm khác của ta đắt đỏ hơn.

Lúc này, nợ xấu ở các nhà băng khó mà giải quyết và nguồn lực không được dành cho hoạt động sản xuất kinh dinh thực sự. Những người kinh doanh bất cẩn sẽ phải tay trắng, để những người có khả năng hơn tiếp quản và sử dụng các nguồn lực của xã hội hiệu quả hơn - đây chính là triết lý căn bản của phá sản, hay sự phá hủy sáng tạo.

Tuy nhiên, khi đó phần mất từ hoạt động đầu cơ sẽ cao hơn rất nhiều phần được từ hoạt động kinh dinh, và chủ doanh nghiệp có khả năng sẽ tay trắng.

Lúc bấy giờ, tuồng như nhà băng quốc gia chỉ chú trọng làm một việc độc nhất là tung tiền đồng ra để mua USD mà “quên” mất các giải pháp trung hòa.

Một số người, trên thực tế, đã có được mức sinh lợi này Khó có ai có thể cưỡng lại cám dỗ. Thêm dầu vào lửa  Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã bị nhiễm “căn bệnh Hà Lan” (Dutch Disease) mà nó được hiểu là dòng vốn lớn chảy vào làm đồng tiền trong nước lên giá dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước trở thành đắt đỏ hơn so với hàng hóa của các nước khác.

Hậu quả là nền kinh tế bị “ngập lụt” tiền đồng. Việc kiếm tiền quá dễ dàng làm cho việc trả lương và tiêu pha trở thành phóng khoáng hơn. Lạm phát bắt đầu phi mã từ cuối năm 2007 và chạm mốc gần 30% vào cuối quý 1/2008.

Một người đã khẳng định được tên tuổi trong ngành tài chính cho rằng có khi Việt Nam phải mất cả một đời thương buôn nữa hoạ chăng mới làm lại được.

Hơn thế, còn một vấn đề rắc rối nữa là không đơn giản để một số người đã quen với mức thu nhập cao chuyển sang tự những hoạt động đầu cơ tài sản để quay lại các hoạt động sản xuất kinh dinh, với mức thu nhập thấp hơn nhiều.

Một trong những vấn đề chính là khu vực trong nước đã từ việc tận dụng lợi thế, tụ tập cho sản xuất kinh doanh sang đầu cơ tài sản trong bối cảnh “căn bệnh Hà Lan” đã làm tổn hại nghiêm trọng sức cạnh tranh của khu vực sản xuất. Ngược lại, sau khi nhập WTO, nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã quay sang đầu cơ tài sản, bỏ bễ các hoạt động sản xuất kinh dinh chính, dẫn đến thua lỗ và nợ xấu tăng cao.

Hậu quả là khu vực sản xuất trong nước trở thành kém cạnh tranh hơn. Sự chuyển hướng nhất tề đã tạo ra cầu đột biến cả về hàng hóa và nguồn nhân lực trong khu vực tài sản. Hậu quả là kinh tế Việt Nam tiếp chuyện khó khăn. Bởi thế, hành vi hợp lý của nhiều doanh nghiệp là tiếp tục tụ hợp nguồn lực để duy trì các hoạt động có tính đầu cơ với hy vọng thị trường tài sản sẽ “nóng” trong ngày mai để không chỉ tránh được tán gia bại sản mà còn có dịp làm giàu trở lại.

Nghiêm trọng ở chỗ là sự bất hợp lý trong các chính sách vĩ mô trong thời gian qua đã làm cho căn bệnh này trở thành trầm trọng hơn. Đương nhiên, đây chỉ là giải pháp cho vấn đề này và Việt Nam cần tiến hành ngay một sự canh tân sâu rộng, toàn diện và bản chất. Ước muốn và khả năng giàu chóng vánh mà không phải làm gì đã “thực tế hơn” đối với nhiều người.

Chỉ có một ngoại lệ là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn đang ăn nên làm ra, do họ đã tận dụng được những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam và miễn dịch được với những tác động thụ động. Nếu buông các hoạt động đầu cơ để tụ họp vào hoạt động kinh doanh mấu chốt (tỉ dụ dịch vụ taxi chả hạn) thì sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho tầng lớp. Giá các doanh nghiệp tận dụng tốt cơ hội mở cửa, tiếp tập trung vào hoạt động sinh sản kinh dinh tạo ra sản phẩm thì kỳ vọng sẽ thành hiện thực.

Kết quả là các doanh nghiệp ăn nên làm ra, tăng trưởng kinh tế cao và tạo tâm lý lạc quan, hồ hởi cho toàn xã hội. Hậu quả là nhiều người trở thành “lười hơn”, chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, chứ không còn chí thú làm ăn như trước. Trong cảnh ngộ giờ, nếu tiếp kiến bơm tiền thì nhiều người vẫn có nhịp níu kéo các hoạt động đầu cơ đang thua lỗ và “mặc kệ” các hoạt động kinh doanh đẵn có hiệu quả của mình.

Hơn thế, "căn bệnh Hà Lan" đã làm cho sản xuất trong nước thua kém tranh hơn nên có muốn thì cũng khó mà mở rộng hoạt động. Khi gia nhập WTO, hồ hết người dân Việt Nam cũng như nhiều nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng các thời cơ sẽ được hiện thực hóa và Việt Nam sẽ có được tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan hơn.

Thành thử, thắt chặt tín dụng để buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại có lẽ là giải pháp. Tuy nhiên, điều không may là hành vi của các doanh nghiệp và nhà đầu tư đã đổi thay.

Một nghiên cứu gần đây của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright chỉ ra rằng, ba trong bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng Việt Nam gồm: khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế dân doanh và khu vực nông nghiệp đang gặp trục trặc.

Kỳ vọng quá mức và thay đổi hành vi   Trước khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã đạt được những sự cải thiện đáng kể, nhất là sau khi Hiệp định thương nghiệp Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết và có hiệu lực từ năm 2001.

Lúc này mọi người chỉ tập trung vào việc mua mua - bán bán, chứ không còn “chí thú làm ăn” như trước đây. Nếu tiếp kiến tụ hội vào hoạt động kinh dinh ngày nay thì suất sinh lợi chỉ là hàng chục phần trăm, trong khi đầu tư vào các tài sản (cổ phiếu và bất động sản) thì con số có thể là hàng trăm, thậm chí hàng nghìn phần trăm.

Thay vì tiếp tụ họp các các hoạt động sinh sản kinh dinh tạo ra của cải cho tầng lớp, nhiều người đã “nhảy” vào chứng khoán và bất động sản, mà nói chuẩn xác là đi đầu cơ tài sản. Những khoản hà tiện trong nước được mang ra cùng với một dòng vốn khổng lồ chảy vào Việt Nam đón đầu nhịp.

Điều này có nghĩa rằng, nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ “nở ra” nhanh chóng, trong một tương lai thấy trước. Trước nhất phải kể đến sự tiêu cực trong việc đối phó với dòng vốn đồ sộ từ bên ngoài đổ vào Việt Nam trong năm 2007. Bởi vậy, nếu bỏ khu vực FDI sang một bên và chỉ phân tích ba khu vực còn lại thì nền kinh tế Việt Nam sẽ bi đát hơn nhiều, mà duyên cớ cốt là do ta chứ không phải do tác động từ bên ngoài.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét