Thi sĩ Đăng Hành chả trách vợ nào, con nào, nhưng cũng có lúc đơn chiếc, nhớ nhung đàn con da diết: “Thế là khê cháo ôi cơm Thằng Tễu quay ngoắt thằng Bờm quay đi Thằng Đức nào nói năng gì Thằng Tài biếng nhác lì lì trơ trơ Hậu, Hiền hy vọng chờ mong Càng mong càng mất, càng mơ càng buồn Lại còn Lan, Huệ, Hương, Hùng Bai bai vút vút bùng bùng bai bai Điểm danh còn mấy xâu dài Thôi thôi chiến tích một thời đã qua” (Giúp đời) Rồi: “Phượng ơi cái Chiến nó chuồn Lê, Nga chạy trốn, Loan, Xuân tảng lờ Tớ còn mỗi rượu và thơ Nếu Phượng tâm đầu ý hợp cùng chờ xuân sang” (Tang tình) Những bé gái đẹp như thiên thần, là kết quả cuộc tình thê thiếp của thi sĩ Đăng Hành
Anh em kiến giả nhất phận, không biết sau này chị dựa vào ai. Hết tiền, anh lại về làng… đóng gạch. Cũng có khi anh mượn lời con nhỏ, nói lên nỗi chua chát của thơ mà ứa nước mắt: “… Thôi bố ạ Bố đừng làm thơ nữa Thơ chẳng ăn được đâu Bố làm bánh làm kem Lúc đói con ăn, lúc thèm con mút Kẹo kem mẹ còn bán Thơ chẳng bán được đâu. Chị sống lầm lũi trong ngôi nhà giữa vườn chuối hoang.
Hàng ngày, ngoài lúc làm thơ, gặp bạn thơ, anh vẫn đi đóng gạch thuê cho một ông chủ ở gần nhà kiếm vài chục ngàn đồng. Nhưng tại sao, lúc này, trong căn nhà từng chứng kiến 16 lần nhà thơ Đăng Hành làm lễ phu thê giao bái, lại như một căn nhà hoang, không có lấy một người nữ giới? Có 16 vợ, 24 con, nhưng thi sĩ Đăng Hành sống một trong căn nhà như nhà hoang này.
Lý do Đăng Hành đuổi vợ đi là vì, có vợ ở nhà, vợ la, con khóc, gã không thể làm thơ được. Cậu bé giống bố Hành như lột. Tôi kể rằng, bà chị gái mắng thế có đúng không, nhà thơ Đăng Hành bảo chị mắng thế là đúng
(Lời con nhỏ) Ở trang bìa thứ 2 của tập Thơ Hỏi, thi sĩ Nguyễn Đăng Hành tự nhận mình là “người tật nguyền, cô đơn”. Ngoài những lúc lên đồng với thơ, vô ngã, vô chú, vô chứ, vô tranh, vô danh, vô cầu, vô vi… với thơ, đôi lúc, anh cũng buồn, cũng xót với cái nghèo của mình, vì chẳng thể đem thơ ra xào nấu thành món ăn no bụng. Căn nhà đã nhỏ, nhưng rác, bát đĩa, chai lọ bộn bề khắp nơi.
Bà Nguyễn Thị Kỷ, chị gái của nhà thơ Đăng Hành, nhà ngay cạnh, cứ luôn mồm chửi thằng em vô tích sự, vô trách nhiệm nhất thiên hạ, rằng đến cái thân nó (đầy bệnh tật), đến cái nhà nó (như nhà hoang), nó còn chả có nghĩa vụ, thì nó còn biết lo âu cho ai nữa.
Lương mất sức của anh chỉ được gần triệu bạc. Tôi nhớ mang máng, có một nhà tâm lý nói rằng, đàn ông càng yêu nhiều, càng đơn chiếc, và cái hành trình lấp đầy nỗi cô đơn sẽ chỉ làm cho họ thêm trống lổng.
Chả người đàn ông nào để ý đến chị. Thi sĩ Đăng Hành kể, có lần, ngồi uống rượu với ông bố vợ ở Văn Giang, ông bố vợ chửi: “Mày là thằng vô nghĩa vụ. Anh đi gặp bạn thơ để nhậu nhẹt, bình thơ, gặp vợ, thăm con, ai nghèo, ai thiếu thì anh cho hết
Thi sĩ Đăng Hành bảo: “Đấy, tớ đểu thế đấy, con mình là học sinh giỏi mà cũng không biết. Thảng hoặc, gặp các con, thi sĩ Đăng Hành lại dặn các con, rằng nếu người ta mà nói với con, bố mày vợ nọ, con kia, bỏ mặc chúng mày đói nghèo, thất học, thì các con nói đỡ cho bố một tiếng, rằng “bố cháu là thi sĩ ạ!”.
Anh Vũ bảo: “Đúng là ông Đăng Hành thợ mộc biết làm thơ có 15-16 bà vợ, mỗi tỉnh, mỗi địa phương đều có một vài bà, dân làng đều biết, nhưng không thấy ra xã trình báo, đăng ký gì cả.
Ông ấy sống hiền lành, không vi phạm, không động chạm gì đến hàng xóm cả”. Cũng có lẽ, nhờ những phút thăng hoa tột bực trên giường với 2-3 bà một lúc, và cũng có lúc, kẻ tật nguyền đơn chiếc đến trống trơn, mới có được những câu thơ xuất thần như thế này: “Hỏi rằng ai nắng ai mưa Ai khô ai ướt ai chưa đèo bòng Hỏi người ai nhớ ai mong Ai chờ ai đợi ai lòng hiểu ai Hỏi đêm tối, hỏi canh dài Hỏi chiếc khuy bấm đã cài lại chưa? (Hỏi) Kết thúc câu chuyện về nhà thơ Đăng Hành với kiểu "giúp đời" chẳng giống ai, tôi chợt nhớ đến bà chị họ ở quê nhà.
Về chuyện này, thi sĩ Đăng Hành có bài thơ vui với tứ thơ lạ: “Ở rể Em vợ chửi Mẹ vợ rủa Mụ vợ xua Anh cười Đắc đạo Rước vợ về quê Rau Cháo Nâng trứng Hứng hoa làng xóm chê Thằng cha sợ vợ Không Không Tớ … nhà thơ (Làm thơ) Nói về những bà vợ, nhà thơ Đăng Hành thường gọi họ là đồ ế, đồ thiu, đồ thừa, đồ đáng thương, là Thị Nở của tầng lớp, còn anh là Chí Phèo tái thế, nhưng kể chuyện về những đứa con, thi sĩ Đăng Hành không khỏi lộ vẻ kiêu hãnh.
Bà chị đã ngoài 40 tuổi, gầy còm, sắc đẹp kém, bố chết, mẹ chết, nhà lại quá nghèo. "Tự do của Đăng Hành chỉ đáng bạc tỉ thôi à?" Cứ nhìn cái ngôi nhà của nhà thơ Đăng Hành thì biết anh nghèo thế nào.
Thiếu đàn bà, nên bếp núc như thế này đây
Anh vẫn bảo, Hành tức là giời hành cơ mà. Thật khổ cho chị. Này nhé, đất ở Thường Tín, Văn Giang, Gia Lâm, Long Biên của các bà đều bạc tỉ đấy. Riêng bà này, đẻ xong cho bà ấy một đứa, tớ ít hỗ tương, nên không biết nó là trai hay gái, mấy tuổi rồi.
Anh Vũ là người cùng làng Khoan Tế với thi sĩ Nguyễn Đăng Hành. Nhưng Nguyễn Đăng Hành bảo sao rẻ thế, tự do của Nguyễn Đăng Hành mà có bạc tỉ thôi à?”. Từ thông báo xã cung cấp, chị gái cung cấp, xóm thôn cung cấp và chính miệng thi sĩ Đăng Hành kể lể, bằng cớ là hàng đống ảnh chụp cưới xin, thì quả thực nhà thơ Đăng Hành có 16 bà vợ.
Nếu một người đàn ông nào đó, cho chị một đứa con, rồi kể cả bỏ mặc mẹ con chị, chắc tôi cũng không coi anh ta là kẻ đểu giả! Theo VTC/ Khám phá. Các bạn thơ chụp ảnh kỷ niệm chuẩn bị phát xuất đón vợ thứ 16 của Đăng Hành
Mỗi lần cưới vợ, Nguyễn Đăng Hành cho tân nương được hai tuyển lựa: Một là ở nhà chồng, hai là Đăng Hành ở rể. Vậy đấy, sống giữa đàn vợ và bầy con, thế mà Nguyễn Đăng Hành lúc về già vẫn cô đơn giữa căn nhà hoang với cỏ dại và hai cây ổi chẳng chịu trổ hoa.
Cưa, đục, lốp xe treo lủng lẳng đầy mái nhà. Thơ anh tháng nào cũng đăng báo, phát trên đài, nhưng thu nhập từ thơ cũng chỉ được đôi ba trăm bạc, không đủ mua rượu ăn mừng. “Cả 16 bà đều thích tớ, đều yêu tớ mê mệt, tranh nhau đòi về ở với tớ đấy.
Thời con gái, chị thường nhật như bao cô gái khác, nhưng giờ chị có vẻ lẩn thẩn. Ô hay, có tới 16 bà vợ, 24 đứa con chính thức, con không chính thức thì không biết có bao lăm, thế mà anh vẫn là người đơn chiếc nhất nhân gian! Bà chị Nguyễn Thị Kỷ kể, cưới vợ được một thời kì, đưa vợ về nhà được dăm hôm bẩy bữa, thằng em vô nghĩa vụ của bà lại đuổi họ đi.
Đăng Hành bảo, trước khi cưới bà nào về, anh đã nói trước rồi, anh thích sự tự do, không thích ràng buộc, vì anh là thằng vô tích sự
Cũng có lúc, cả chục đứa tề tựu đông đủ, nhưng cũng có lúc, trong thời gian dài, chả thấy đứa nào hỏi đến ông bố, người mà chỉ có mỗi công là giúp mẹ nó đẻ ra nó, cho nó mang họ, còn lại thì hoàn toàn vô nghĩa vụ.
Con mày là đứa xinh nhất thôn này, cả 6 năm liền nó là học sinh giỏi, mà mày chẳng bao giờ thèm hỏi đến nó một câu”.
Mấy bà cứ đòi bán đất, đem tiền về xây biệt thự ở chung với tớ. Dù ở nhà chồng hay ở rể, hễ bà vợ có con rồi, Đăng Hành sẽ nói “bai bai” để đi tìm tự do tự tại với bầu rượu, túi thơ. Đến cái chỗ kê bát cũng không có, phải tha mấy tấm bia mộ người ta bỏ đi đem về làm giá. Anh tự trào phận hẩm qua bài Tự hứng: “Làm thầy làm thợ lại làm thơ Làm lắm cho nên nỗi xác xơ Lắm lúc vểnh râu lên lớp phó Nhiều phen trợn mắt bật tràng thơ Nhừ tay đục đẽo mồ hôi tóe nát nước nghiến nghiền thần sắc trơ Đa nghiệp, đa nghề nên dạ lép Đáng đời thầy thợ, đáng đời thơ”.
Riêng vụ này thì tớ vô tình thật”. Những ai một lần đến nhà nhà thơ Đăng Hành, có nhẽ, điều ấn tượng nhất không phải là chuyện anh làm thơ hay, lấy nhiều vợ, mà là được chứng kiến một cái… ổ chuột hôi hám, bẩn thỉu, kỳ dị. Để tìm hiểu thực hư chuyện 16 bà vợ, tôi gặp anh Vũ – phó chủ toạ UBND xã Đa Tốn.
Và như vậy, cuộc thế nhà thơ Đăng Hành đa tình kia cũng chả sung sướng gì. Cứ khi nào có lương, là Đăng Hành biến mất khỏi ngôi nhà ở Khoan Tế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét